Rate this post

Kính gửi các doanh nghiệp xuất khẩu,

Sở Công Thương Cần Thơ kính gửi các doanh nghiệp một số thông tin về quy định đối với hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Phần Lan, do Thương vụ Việt Nam tại Thụy Điển biên soạn.

1. Chứng nhận CE cho sản phẩm nhập khẩu vào Phần Lan:

CE được viết tắt từ cụm từ “Conformité Européenne” có tên gọi đầy đủ và chính thức là CE Marking. Chứng nhận CE Marking cho biết sản  phẩm tuân theo pháp luật của EU và cho phép sản phẩm đươc lưu thông tự do trong thị trường Châu Âu. Thông qua việc gắn dấu CE lên sản phẩm, nhà sản xuất tuyên bố dựa trên trách nhiệm của họ rằng sản phẩm đó đáp ứng mọi yêu cầu về mặt pháp  lý để có được tiêu chuẩn CE Marking.

Chứng nhận CE cũng được coi như “hộ chiếu thương mại” để sản phẩm vào thị trường EU. Hiện nay, rất nhiều nhà sản xuất bị hải quan EU tịch thu như là hàng xấu hoặc bị trả lại vì không có CE Marking. 

Một số sản phẩm khi tiêu thụ tại thị trường Phần Lan cũng như thị trường Châu Âu yêu cầu phải được dán nhãn CE. Các sản phẩm yêu cầu phải dán nhãn CE:

  • Máy móc công nghiệp
  • Thiết bị điện và điện tử bao gồm AC 50V~1000V, DC 75V~1500V
  • Thiết bị điện và điện tử
  • Thiết bị y tế
  • Thiết bị y tế cấy dưới da
  • Các thiết bị y tế ống nghiệm 
  • Thang máy
  • Sản phẩm chống cháy nổ
  • Đồ chơi trẻ em 
  • Thiết bị áp lực đơn
  • Thiết bị khí đốt
  • Thiết bị đầu cuối, truyền thông có dây và không dây
  • Thiết bị cân không tự động
  • Thiết bị bảo vệ cá nhân
  • Nồi hơi nước nóng
  • Vật liệu xây dựng
  • Cáp dùng cho giao thông vận tải cá nhân 
  • Thiết bị áp lực
  • Các loại thuốc nổ dân dụng
  • Du thuyền
  • Dụng cụ đo lường
  • Thùng để đóng gói
  • Pháo hoa

Việc dán nhãn CE lên sản phẩm cũng được EU quy định nghiêm ngặt. Với mỗi sản phẩm khác nhau quy định về việc dán nhãn cũng sẽ khác nhau. Một số quy định chung như sau: 

  • Kích thước của biểu tượng dấu “CE” khi tăng hay giảm thì tỷ lệ vẫn phải được giữ nguyên
  • Dấu “CE” được đặt theo chiều thẳng đứng và kích thước không được nhỏ hơn 5mm
  • Dấu “CE” phải đặt ở vị trí không bị các logo khác che khuất

2. Chính sách thuế của Phần Lan:Phần Lan áp dụng một phần hệ thống thương mại hài hòa thuế quan chung của Liên minh châu Âu (EU). Các quy định về xuất nhập khẩu tuân theo các quy định của EU. Mức thuế suất chung (CCT) được áp dụng cho những hàng hóa nhập khẩu qua biên giới của EU.

Cộng đồng Châu Âu đã thiết lập hệ thống Thông tin thuế quan bắt buộc (BTI) như một công cụ cung cấp thông tin về thuế suất áp dụng cho các mặt hàng xuất nhập khẩu. Thuế suất có thể được tham khảo trên trang web của Hải quan Phần Lan.

Doanh nghiệp có thể tham khảo thông tin tại trang điện tử của Bộ Tài chính Phần Lan theo link: https://vm.fi/en/customs

Trong thị trường nội bộ EU, các nước thành viên EU không phải chịu thuế hải quan khi bán hàng của mình ở các nước thành viên EU khác. Nhập khẩu hàng từ một nước ngoài EU vào EU có thể phải chịu thuế hải quan, và trong một số trường hợp phải theo hạn ngạch nữa, mặc dù mức thuế này thường ở mức khiêm tốn. Tuy nhiên, đã có những hiệp định về tự do thương mại cũng như những ưu đãi tự định mà EU dành cho các nước không thuộc EU. Mức thuế áp dụng được tính bằng phần trăm của giá trị tính thuế của hàng hóa.

Thuế đặc biệt đối với hàng nông nghiệp được tính theo số lượng hay trọng lượng hàng, hay bằng cách tính gộp cả phần trăm giá trị hàng và trọng lượng hàng. Khi hàng xuất xứ từ các nước ngoài EU đã vào khu vực EU và thủ tục hải quan đã hoàn tất, sản phẩm được phép lưu hành tự do trong toàn khu vực thị trường chung EU.

Chế độ Ưu đãi Phổ cập (GSP) là một trong những cơ chế ưu đãi. Theo chế độ này, sản phẩm nhập vào các nước EU từ các nước đang phát triển được hưởng giảm thuế. Hàng hóa theo chế độ GSP được chia làm hai loại: nhạy cảm và không nhạy cảm. Hàng công nghiệp, trừ các loại vải, chủ yếu thuộc loại không nhạy cảm, và không phải chịu thuế. Trong khi đó, phần lớn sản phẩm nông nghiệp thuộc loại nhạy cảm và chỉ được giảm thuế tới mức nhất định. Những nước được hưởng ưu đãi khuyến khích đặc biệt vì có phát triển bền vững và quản trị tốt (GSP+) được miễn thuế cho tất cả các loại sản phẩm, kể cả loại hàng nhạy cảm. Những điều kiện tốt nhất được dành cho những nước kém phát triển nhất (LDCs), ví dụ như không phải chịu thuế và hạn ngạch đối với tất cả các loại hàng hóa trừ vũ khí, theo hiệp định “Mọi hàng hoá trừ vũ khí”. EU còn dành ưu đãi tự định cho Các nước và Vùng lãnh thổ ở Hải ngoại (OCTs). Điều này có nghĩa là họ không phải chịu thuế nhập khẩu vào thị trường EU. Còn có những hiệp định tự do thương mại giữa EU và các nước ACP (Châu Phi, vùng biển Cari-bê, và vùng Thái Bình Dương), hiệp định này được dựa trên Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPAs) hay thỏa thuận tiếp cận thị trường tạm thời trước khi ký EPAs, mà trước đó gọi Hiệp định Cotonou. Ngoài ra, phải kể đến những chế độ ưu đãi thuế quan theo những Hiệp định Tự do Thương mại (FTAs) ví dụ như với Mexico, Chile, Nam Phi và một số nước vùng Địa trung hải. Khi đã biết mã đúng của hàng hóa trong Hệ thống Mã hóa và Mô tả Hàng hóa Thống nhất (mã HS), những ưu đãi và các loại thuế có thể được kiểm tra tại trang web hỗ trợ xuất khẩu của EU (http://exporthelp.europa.eu). Cơ sở dữ liệu cũng có thể được tìm kiếm bằng tên sản phẩm.

Nhà xuất khẩu nên tìm hiểu và biết những luật lệ về giấy phép và bảo lãnh nhập khẩu, mặc dù thông thường người nhập khẩu Phần Lan sẽ đảm nhận những công việc này.

3. Quy tắc Xuất xứ:

Để được đối xử ưu đãi, hàng xuất khẩu phải có nguồn gốc từ một nước thuộc hiệp định tự do thương mại hay một chế độ ưu đãi. Một sản phẩm được xem là xuất xứ từ một nước có quyền hưởng lợi khi sản phẩm có toàn bộ thành phần hay chế biến phần lớn trong nước đó. Khi sản phẩm có chứa những thành phần, hay được chế biến một phần ở nước khác, thì lúc đó quy tắc về xuất xứ sẽ quyết định nguồn gốc của sản phẩm. Những nước thuộc về những nhóm nước nhất định: ASEAN (Đông Nam Á), SAARC (Nam Á) và Cộng đồng Andean (Nam Mỹ) có quyền sử dụng nguyên liệu từ các nước trong khối của họ mà không bị mất quyền xuất xứ hàng hóa.

Làm thế nào để hưởng lợi từ mức thuế thấp hơn:

  • Sản phẩm phải có xuất xứ từ một nước đang phát triển được hưởng lợi từ một trong những cơ chế ưu đãi của EU (GSP, GSP+, EBA, EPA, hay FTAs);
  • Sản phẩm phải nằm trong phạm vi hàng của những cơ chế ưu đãi có liên quan;
  • Sản phẩm phải thỏa mãn tiêu chí về nguồn gốc hàng hóa và có đủ tài liệu chứng minh;
  • Chứng chỉ xuất xứ hàng hóa cấp bởi các cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu phải được dùng: Mẫu A (GSP) hay Chứng chỉ EUR.1 (EPAs và OCTs);
  • Hàng phải được vận chuyển thẳng từ nước xuất xứ tới Phần Lan (hoặc qua một nước EU khác, hay Thụy Sĩ);
  • Nhà nhập khẩu phải xin giảm thuế khi làm thủ tục thông quan.

4. Một số vấn đề liên quan đến bao gói và nhãn mác:

Mục đích chính của đóng gói là để bảo vệ chất lượng ban đầu và vệ sinh của sản phẩm cho tới khi chúng đến tay người tiêu dùng. Có nhiều yêu cầu pháp lý khác nhau đối với đóng gói và nhãn mác cho các loại hàng khác nhau, tùy theo nó được dùng cho sản xuất công nghiệp hay cho con người. Mục đích, vẫn là, bảo vệ sự an toàn và sức khỏe người tiêu dùng, và cung cấp đầy đủ những thông tin có liên quan đến sản phẩm.

Một nhóm những Chỉ thị của EU (quy định khung EC1935/20049) quy định loại chất liệu, loại nhựa và bìa các tông nào được dùng khi có tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Chỉ thị Đóng gói có những điều khoản về ngăn chặn chất thải bao gói, về tái sử dụng, và về thu gom và tái chế chất thải bao gói – người nhập khẩu chịu trách nhiệm thi hành chỉ thị này. Chỉ thị về tên vải đề cập tới những quy định bắt buộc về dán nhãn hàng vải, và còn nhiều chỉ thị về nhãn hàng thực phẩm, về xuất xứ hàng, v.v.

Những yêu cầu về nhãn mãc và ký mã hiệu tại Phần Lan dựa trên Luật An toàn Thực phẩm (Act on Product Safety) có hiệu lực cùng với chỉ thị của EU về vấn đề an toàn thực phẩm. Những thông tin trên phải có trên bao gói bán lẻ: tên sản phẩm (chỉ rõ thành phần bao gói), tên nhà sản xuất, trọng lượng và khối lượng của các thành phần trong sản phẩm, đơn vị đo bằng hệ mét).

Cỏ khô, than bùn và rơm có thể không được sử dụng nếu không được phép của Bộ Nông nghiệp Phần Lan. Các mặt hàng nhập khẩu được ký hiệu theo bất kỳ cách nào dẫn đến việc hiểu nhầm nước xuất xứ hàng hóa hoặc nhãn hiệu sẽ bị cấm nhập khẩu vào Phần Lan.

Tất cả các thùng chứa hàng bên ngoài phải có ký hiệu và số hiệu xác định giống như ghi trên vận đơn. Thông tin về chất phụ gia và chất cặn/bã của thực phẩm phải bao gồm trên nhãn mác. Những thông tin liên quan đến vấn đề dinh dưỡng của thực phẩm như vitamin, khoáng chất, chất béo và axit amin cùng các hợp chất khác (nếu có trong sản phẩm) cũng cần được đề cập tại nhãn mác sản phẩm.

Các sản phẩm sơn phải tuân thủ những qui định và yêu cầu đặc biệt về phân loại sản phẩm độc hại được nêu trên nhãn mác.

Thông tin cảnh báo đối với vấn đề sức khoẻ phải có trên vỏ bao thuốc lá bán tại các điểm bán lẻ.

Nếu các vấn đề về an toàn và an ninh kinh tế của sản phẩm thuộc diện quan tâm của người tiêu dùng thì trên bao gói bán lẻ của sản phẩm phải bao gồm các thông tin sau: các thành phần có trong sản phẩm, hướng dẫn cảnh báo về việc sử dụng, hướng dẫn vận hành, cách bảo quản hoặc thải hồi sản phẩm.

(một số nhãn hiệu minh họa)

Trân trọng,