Tin tức mới :
Tin Tức » Thông tin mới
Phân tích thị trường thủy sản Hàn Quốc
Kính gửi quý doanh nghiệp,

Nhu cầu của người tiêu dùng Hàn Quốc ngày càng cao về độ tươi của sản phẩm, nguồn gốc, vị, giá cả thấp và an toàn thực phẩm, đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng quyết định mua hàng. Mặc dù khan hiếm về nguồn hải sản, sản lượng thủy sản dự kiến không tăng trong tương lai gần, nhưng tiêu thụ thủy sản tiếp tục tăng do người tiêu dùng cho rằng thủy sản là nguồn cung cấp protein lành mạnh. Sở Công Thương Cần Thơ kính gửi các doanh nghiệp thông tin tổng hợp của Bộ Công Thương về thị trường thủy sản Hàn Quốc. Cụ thể:

I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG

Năm 2016, nhập khẩu thủy sản của Hàn Quốc đạt 4.5 tỷ USD, tăng 6.2% từ mức 4.24 tỷ USD năm 2015. Nước cung cấp lớn nhất cho thị trường này năm 2016 là Trung Quốc kim ngạch 1.2 tỷ USD, theo sau là Nga 698 triệu USD, Việt Nam 615 triệu USD, NaUy 299 triệu USD và Hoa Kỳ 227 triệu USD.

10 nước xuất khẩu lớn nhất vào Hàn Quốc

STT

Nước xuất khẩu

Giá trị (triệu USD)

1

Trung Quốc

1200

2

Nga

698

3

Việt Nam

615

4

Na Uy

299

5

Hoa Kỳ

227

6

Thái Lan

147

7

Nhật Bản

142

8

Hong Kong

100

9

Đài Loan

100

10

Peru

89

10 nước xuất khẩu lớn nhất chiếm tới 80% tổng giá trị nhập khẩu của Hàn Quốc năm 2016.

Các mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất về lượng gồm: Cá Minh Thái Alaska (Alaska Pollack Fish), Surimi cá Minh Thái Alaska (Alaska Pollack Surimi), cá trình nhỏ (Sand Lance, Mực), Cá thu, Cá thu đao (Saury), Bạch tuộc (Poulp Squid), nghêu (Baby Clam), cá Hồng Mỹ (Yellow Corbina), Cá bơn đông lạnh, cá hố (Hair Tail), cá Monkfish và bạch tuộc (Webfoot Octopus).

Các mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất về giá trị gồm: Tôm (Shrimp & Prawn), Cá Minh Thái Alaska (Alaska Pollack Fish), Các loại surimi cá khác, Bạch tuộc đông lạnh/bạch tuộc sống (Poulp Squid), Cá hồi Đại tây dương, Cua sống (King Crab), Cá hố đông lạnh (Hair Tail), Cá hồng Mỹ đông lạnh (Yellow Corbina), Bạch tuộc đông lạnh (Webfoot Octopus), giống cá trình nước ngoài (Glass Eel), cua tuyết sống (Snow Crab), cá Minh Thái khô (Alaska Pollack), Mực đông lạnh và tôm hùm sống.

II. NGUỒN CUNG, NHU CẦU

1. Nguồn cung

Sản lượng thủy sản của Hàn Quốc năm 2016 giảm nhẹ xuống 3.26 triệu tấn, giảm 2.2% so với mức 3.33 triệu tấn năm 2015. Sản lượng ở vùng nước liền kề giảm 13.4% so với năm 2015 và sản lượng ở vùng nước xa bờ giảm 21.3%. Tuy nhiên sản lượng từ các vùng nuôi trồng thủy sản ở vùng nước biển nông (ngành có sản lượng lớn nhất) và vùng nước nội thủy (vùng nước trong nội địa - ngành có sản lượng nhỏ nhất) tăng lần lượt 11.4% và 6%, giúp duy trì sản lượng thủy sản nói chung.

Sản lượng thủy sản ở vùng nước xa bờ liên tục giảm trong năm 2015 và 2016 đã được dự báo trước đó do sản lượng năm 2014 tăng bất thường vì đánh bắt mực tăng quá mạnh. Dự báo, sản lượng cá trong nước của Hàn Quốc sẽ không tăng nhiều trong tương lai do giảm nguồn cá từ các vùng nước liền kề và ảnh hưởng của việc bắt buộc thực hiện các điều luật thuộc Vùng kinh tế đặc quyền của các nước láng giềng. Những hạn chế đưa vào trong các hiệp định đánh bắt song phương và đa phương mà Hàn Quốc tham gia sẽ ảnh hưởng nhiều hơn tới tổng lượng thu hoạch. Thu hoạch từ các vùng nước gần bờ chủ yếu bao gồm: mực, cá thu, cá hồng mỹ, cá hố và cá trồng.

Trước tình hình này, chính phủ Hàn Quốc đã nghiên cứu một cách nghiêm túc về việc nuôi trồng thủy sản, đồng thời xem xét đến việc mua hạn mức đánh bắt cá từ các nước khác, bao gồm Nga. Chính phủ Hàn Quốc đang nỗ lực đẩy mạnh sản lượng thủy sản nuôi trồng tại các vùng nước biển nông. Bên cạnh đó cơ hội xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc, EU và Nhật Bản tăng lên nên việc chính phủ Hàn Quốc chú trọng vào thủy sản nuôi trồng tại các vùng nước biển nông dự báo tăng và sẽ đáp ứng kế hoạch xuất khẩu 10 tỷ USD hàng năm cho tới năm 2020.

Để bảo vệ các nhà sản xuất thủy sản nội địa khỏi sản phẩm nhập khẩu (chủ yếu từ Trung Quốc), chính phủ Hàn Quốc đã áp mức "thuế điều chỉnh" cao hơn từ 22-50% cho 9 loài cá không thuộc đối tượng ràng buộc thuế theo các hiệp định của WTO. Trước khi thực hiện thuế điều chỉnh, nhập khẩu 9 loại này là đối tượng chịu thuế từ 10-20%. Tuy nhiên, Hiệp định tự do thương mại Hàn Quốc - Trung Quốc thực hiện từ 20/12/2015, bắt đầu thúc đẩy sự gia tăng cạnh tranh giá cả và các chất lượng tốt của Trung Quốc xâm nhập nhiều vào thị trường Hàn Quốc.

Năm 2015, sản lượng thủy sản chế biến của Hàn Quốc là 1.83 triệu tấn, giảm 21.7% từ mức 2.34 triệu tấn năm 2014 do giảm nguồn cá. Tuy nhiên, theo giá trị, chỉ giảm 5.7% do tăng giá và tăng các sản phẩm giá trị gia tăng như các sản phẩm bánh cá, cá khô và thủy sản đóng hộp.

2. Nhu cầu

Nhu cầu của người tiêu dùng Hàn Quốc ngày càng cao về độ tươi của sản phẩm, nguồn gốc, vị, giá cả thấp và an toàn thực phẩm, đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng quyết định mua hàng. Mặc dù khan hiếm về nguồn hải sản, sản lượng thủy sản dự kiến không tăng trong tương lai gần, nhưng tiêu thụ thủy sản tiếp tục tăng do người tiêu dùng cho rằng thủy sản là nguồn cung cấp protein lành mạnh.

Theo báo cáo của Viện kinh tế nông thôn Hàn Quốc, tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người tại Hàn Quốc năm 2014 là 58.9kg (sản phẩm cá và các loài động vật có vỏ là 41.9kg và tảo là 17kg). Các loài thủy sản tiêu thụ bởi người Hàn Quốc gồm: cá trồng, cá thu, tôm, mực, cá ngừ, cá Minh Thái Alaska, cá hồng Mỹ, cá hố, cá bơn, cá monkfish, cá trình, cá quân và cá tuyết. Đây là kết quả của việc ngành thủy sản Hàn Quốc đã nỗ lực thay đổi quan điểm của người tiêu dùng về cá (được coi là thực phẩm thay thế có lợi cho sức khỏe hơn thịt đỏ). Đa dạng sản phẩm cá, cải tiến chất lượng và nâng cao công nghệ chế biến là những yếu tố chính trong việc tăng nhu cầu nội địa. Thêm vào đó, do thu nhập tăng và điều kiện sống được cải thiện, các nhà hàng thủy sản gia đình tăng nhanh tại Hàn Quốc. Các nhà hàng phổ biến gồm Todai, Ocean Seafood, Bono-Bono, Marisco, Makinochaya, Fisher’s Market, Sea-n-More, Seafood Blue, El Mareta, Cfood Kitchen, D’ Maris, Muscus, Viking’s Wharf và Soosa. Những nhà hàng này dùng cả thủy sản nhập khẩu và sản phẩm sản xuất trong nước.

Người Hàn Quốc ăn cá dưới nhiều hình thức tùy theo sở thích: cá tươi, cá ướp lạnh, cá đông lạnh. Một số loại được ăn sống ("Hoi" hay "Sashimi") và yêu cầu mức giá cao. Người Hàn Quốc cho rằng cá tươi có vị ngon hơn cá đông lạnh sau khi nấu. Theo đó, cá tươi và cá ướp lạnh thường có giá cao hơn cá đông lạnh.

Hiện tại, có ngày càng nhiều phụ nữ làm việc bên ngoài, nên nhuc ầu đối với các loại thực phẩm tiện lợi tăng lên. Người tiêu dùng Hàn Quốc ưa thích các loại thực phẩm đã nấu sơ, đã chế biến hoặc thực phẩm bảo quản có sẵn tại các siêu thị.

Năm 2013, tập đoàn CJ (Cheil Jedang) tung ra nhãn hiệu thủy sản đã chế biến mới có tên “Alaska Salmon”.  "Alaska Salmon" là sản phẩm đóng hộp sản xuất tại Thái Lan (OEM) sử dụng cá hồi tự nhiên từ Alaska, vùng đất nổi tiếng với nguồn nước sạch. Giá 1 hộp sản phẩm là 3,600 Won cho hộp 135gram (tương đương khoảng 13.4 USD 1 pound), mức giá đắt hơn 2 lần so với loại cá ngừ đóng hộp thông thường, nhưng sản phẩm 100% cá hồi thiên nhiên này tạo một thành công lớn trên thị trường với doanh thu 8.2 triệu USD trong năm đầu tiên, chiếm 86% thị phần.

Tương tự như thành công trong việc tung nhãn hiện “Alaska Salmon”, các nhà máy đồ hộp đối thủ cũng như “Dongwon” và “Sajo” cũng giới thiệu sản phẩm cá hồi đóng hộp nhằm chiếm thị phần của CJ. CJ vẫn là nhà cung cấp hàng đầu chiếm 60% thị phần năm 2014 và 2015, công ty này sau đó còng tiếp tục đưa ra các loại sản phẩm mới, doanh thu năm 2015 đạt 44.1 triệu USD.

Về nhập khẩu, Hàn Quốc nhập khẩu thủy sản từ hơn 100 nước trên thế giới nhưng 10 nước đứng đầu đã chiếm tới 80% thị phần. Việt Nam hiện là nước cung cấp lớn thứ 3 vào thị trường này.

Kim ngạch nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam trong 8 tháng đầu năm, giá trị xuất khẩu mặt hàng thủy hải sản Việt Nam sang Hàn Quốc đạt hơn 475 triệu USD, tăng hơn 27% so với cùng kỳ năm ngoái. Các mặt hàng chủ yếu nhập từ Việt Nam gồm: Tôm đông lạnh, thịt cá, bạch tuộc, mực, cua đông lạnh và các loại động vật thân mềm có vỏ.

Nhờ Hiệp định FTA giữa 2 nước có hiệu lực từ cuối năm 2015, có nhiều mặt hàng được ưu đãi thuế, trong đó các mặt hàng thủy sản nhận được nhiều ưu ái hơn. Các biện pháp xử lý các mặt hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm cũng linh hoạt hơn, nhưng ngày càng có nhiều công ty Việt Nam đạt tiêu chuẩn chất lượng và được phép xuất khẩu thủy sản vào Hàn Quốc. Dự báo trong thời gian tới, xuất khẩu thủy sản sang Hàn Quốc tiếp tục thuận lợi. Tuy nhiên, Hàn Quốc ngày càng siết chặt hơn đối với công tác kiểm định chất lượng hàng hóa, doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu sang thị trường này.

 

Tìm hiểu thêm các quy định về kiểm dịch thủy sản xuất khẩu sang Hàn Quốc tại: 

Qui định mới về kiểm dịch thủy sản xuất khẩu vào Hàn Quốc có hiệu lực từ ngày 09/4/2017. Chi tiết xem
a. Văn bản số 480/QLCL-CL1 ngày 31/3/2017 của Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản về chứng nhận ATTP và dịch bệnh cho các lô hàng tôm xuất khẩu vào Hàn Quốc 
b. Văn bản số 
381/QLCL-CL1 ngày 16/3/2017 của Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản về qui định kiểm dịch của Hàn Quốc
 - 
Phụ lục 1: Yêu cầu về chế độ xử lý nhiệt đối với tôm và các dạng sản phẩm tôm phải kiểm dịch;
 - 
Phụ lục 2: Tên của các loại bệnh gây dịch trên tôm;
 - 
Phụ lục 3: Các loài thủy sản liên quan đến chỉ tiêu dịch bệnh;
 - 
Phụ lục 4: Mẫu Giấy chứng nhận xuất khẩu vào Hàn Quốc;
(Tải file word dạng .doc theo link 
http://nafi6.gov.vn/uploads/news/2017_03/korea_ch_04-2017.doc)
 

 


Đăng nhập hội viên
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
CBA hành khúc: Đến với CBA
Next Previous
01/10

NH Ngoại thương Việt Nam-CNCT

01/10

01/10

Cty TNHH TM DL Trần Dung

01/10

01/10/2017

Cty TNHH DV Bảo vệ Lâm Hoàng

01/10/2017

(09/10)

Cty CP DL&TT GTVT VN Vietravel-CNCT

(09/10)

09/10

VPĐD Cty CP Du học JTRAIN

09/10

11/10

Cty TNHH MTV TM An Phúc Thành

11/10

14/10

Cty TNHH MTV ETICKET

14/10

14/10

Cty TNHH MTV DV DL Kiều Chinh

14/10

22/10

Cty CP Bê Tông Tây Đô

22/10

28/10

Cty TNHH Dịch vụ DAFUNA

28/10

28/10

Cty TNHH Thuốc thú y Á Châu

28/10

28/10/2017

Cty TNHH MTV TM DV Quan Giàu

28/10/2017

29/10

Cty CP TBVP Siêu Thanh

29/10

31/10

Công ty TNHH MTV ATNM

31/10

31/10

Cty TNHH MTV AISTV

31/10

Tin trong ngày (RSS)
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
  •   
  •